Áp xe phổi – Dấu hiệu, nguyên nhân, tác hại và cách điều trị hiệu quả

Áp xe phổi – Dấu hiệu, nguyên nhân, tác hại và cách điều trị hiệu quả
Rate this post

Áp xe phổi là một tình trạng có ổ mủ ở trong nhu mô phổi của người bệnh. Vậy áp xe phổi là bệnh gì, dấu hiệu như thế nào, nguyên nhân do đâu, có biến chứng gì…? Các bạn có thể cùng chúng tôi tìm hiểu chi tiết, cụ thể về căn bệnh này qua bài viết này.

Áp xe phổi là gì?

Áp xe phổi chính là hiện tượng nung mủ, hoại tử nhu mô phổi của người bệnh. Chúng xảy ra sau quá trình người bệnh bị viêm cấp mà không được điều trị kịp thời hiệu quả.

Tình trạng viêm nhiễm hoại tử cấp tính không phải lao (do vi khuẩn, nấm hay sinh vật ký sinh), tạo thành hang sau khi ộc mủ. Hiện tượng này có thể có một hoặc nhiều ổ.

Áp xe phổi là gì?

Áp xe phổi là gì?

Những dấu hiệu áp xe phổi thường gặp

Các chuyên gia cho biết, có nhiều dấu hiệu bệnh để giúp ta có thể nhận biết bệnh. Trong đó được chia ra là dấu hiệu lâm sàng và dấu hiệu cận lâm sàng, cụ thể ở dưới đây.

  Biểu hiện lâm sàng

Ở trong giai đoạn ổ mủ kín người bệnh sẽ có biểu hiện ho, sốt có thể 39 – 40 độ C,.. Ngoài ra người bệnh còn có thể kèm theo những biểu hiện khác nữa như đau ngực, hoặc khó thở.

Đến giai đoạn ộc mủ, sau khoảng từ 6 – 15 ngày, người bệnh sẽ ho tăng lên đột ngột. Ngoài ra, người bệnh cũng sẽ có cảm giác đau gia tăng lên so với giai đoạn trước.

Thậm chí, có những người ho dữ dội đi kèm với đó là ộc ra rất nhiều mủ. Mủ của người bệnh ộc ra thường đặc quánh màu vàng, hoặc nhầy nhầy màu vàng. Người bệnh cũng có biểu hiện mệt lả đi, vã mồ hôi và sau đó thì có thể hết sốt, dễ chịu, ăn ngủ được.

Các bạn cần lưu ý, trong giai đoạn ộc mủ cần phải đề phòng tránh để mủ tràn vào đường hô hấp. Qua đó đảm bảo hô hấp được bình thường tránh tình trạng có thể gây ngạt thở.

Sốt có thể là biểu hiện lâm sàng áp xe phổi

Sốt có thể là biểu hiện lâm sàng áp xe phổi

Người bệnh cũng có thể ho ra máu, khạc ra mủ (số lượng ít) ở nhiều lần trong ngày. Với mủ màu vàng sẽ thường có nguyên nhân do tụ cầu, với mủ màu xanh là thường do liên cầu gây nên. Trong khi đó, mủ có màu sô-cô-la thường là do amip gây nên, còn mủ thối sẽ thường là do vi khuẩn kỵ khí gây nên.

Tiếp theo, người bệnh sẽ chuyển sang giai đoạn ổ mủ thông với phế quản. Người bệnh nhân vẫn có biểu hiện ho dai dẳng, cũng như khạc ra mủ với số lượng ít hơn.

  Dấu hiệu áp xe phổi cận lâm sàng

X-quang phổi sẽ thấy có ổ mủ kín với một bóng mờ khá rộng và không thuần nhất. Chúng chưa có ổ phá hủy ở giai đoạn sau, bạn cũng sẽ thấy một hoặc nhiều hang có dạng tròn, bờ dày,… Trong hang có mức nước – hơi, trong khi đó xung quanh đó chính là tổ chức phổi đông đặc.

Khi làm xét nghiệm công thức máu sẽ thấy có lượng bạch cầu tăng cao. Bên cạnh đó là tốc độ máu lắng cũng sẽ gia tăng cao hơn bình thường.

Nguyên nhân gây bệnh áp xe phổi là gì?

Các chuyên gia cho biết, bệnh này có thể do rất nhiều nguyên nhân khác nhau có thể gây nên. Tuy nhiên, bệnh chủ yếu là do những vi khuẩn, ký sinh trùng gây nên, cụ thể như:

  Do vi khuẩn kỵ khí

Một thống kê cho thấy, có đến trên 60% người bị mắc bệnh áp xe phổi là do loại vi khuẩn này gây nên. Một số những loại vi khuẩn phổ biến, thường gặp như: Bacteroide melaniogenicus, Bacteroide fragilis Peptococus, Fusobaterium nucleotum, Peptostreptococcus…

Loại vi khuẩn này sẽ khiến cho hơi thở cũng như đờm của người bệnh sẽ có mùi hôi. Chính vì vậy, sẽ rất dễ để có thể nhận biết được nguyên nhân gây bệnh này. Chúng có thể gây nên áp xe lan tỏa, bán cấp cũng như kết hợp với những vi khuẩn khác như phế cầu, hay liên cầu,…

Vi khuẩn, ký sinh trùng là nguyên nhân gây bệnh thường gặp

Vi khuẩn, ký sinh trùng là nguyên nhân gây bệnh thường gặp

  Do tụ cầu vàng

Nguyên nhân gây bệnh này sẽ thường gặp ở trẻ nhỏ, đặc biệt là những trẻ còn đang bú. Người bệnh sẽ có triệu chứng như sốt cao, sụt cân, rối loạn chức năng tiêu hóa như: nôn, chướng bụng….

Bệnh cảnh lâm sàng vừa ở phổi vừa ở cả màng phổi (tràn khí và dịch màng phổi). Từ đó, sẽ có thể gây suy hô hấp, thậm chí là gây nhiễm trùng nhiễm độc nặng…

  Do bị nhiễm Klebsiella Pneumoniae

Những người bị mắc bệnh do nguyên nhân này sẽ có thể lây lan rất nhanh. Bên cạnh đó khái huyết cũng như bệnh cảnh rất nặng, nguy cơ phải đối mặt với tử vong cao.

  Do những loại vi khuẩn khác

Ngoài ra, bệnh cũng có thể do phế cầu, những vi khuẩn Gram (-) như: Pseudomonas aeruginosa, Legionella pneumophila, Hemophillus influenzae… gây bệnh.

Bên cạnh đó, bệnh cũng có thể do ký sinh trùng gây nên, tiêu biểu nhất là amip.

Áp xe phổi có nguy hiểm không?

Việc điều trị áp xe phổi không quá khó khăn, tuy nhiên nếu chủ quan người bệnh sẽ gặp không ít ảnh hưởng tiêu cực. Thậm chí những ảnh hưởng, biến chứng của áp xe phổi cũng sẽ hết sức khó lường.

Người bệnh sẽ có nguy cơ bị tràn mủ màng phổi do bệnh áp xe phổi gây nên. Do khi ổ áp xe bị vỡ thông với màng phổi, chúng sẽ có thể gây tràn mủ màng phổi. Nếu không được khắc phục kịp thời và hiệu quả, chúng có thể gây nguy hiểm cho người bệnh.

Người mắc bệnh áp xe phổi có thể bị ho ra máu

Người mắc bệnh áp xe phổi có thể bị ho ra máu

Người bệnh cũng sẽ có thể phải đối mặt với nguy cơ bị nhiễm trùng huyết. Nếu như vi khuẩn trong ổ áp xe không được ngăn chặn và chúng xâm nhập vào máu. Từ đó có thể khiến cho cho thể người bệnh bị sốc và có thể dẫn đến tử vong.

Người bệnh cũng có thể ra máu, thậm chí với người bị bệnh áp xe phổi mạn tính còn nguy hiểm hơn. Khi những triệu chứng ho, ho nhiều, ho có thể ra máu là do tình trạng vỡ mạch máu lớn gây nên. Tình trạng sẽ còn trở nên nghiêm trọng hơn khi mà những áp xe này nằm ở gần khu vực rốn phổi.

Ngoài ra, biến chứng áp xe phổi mà người bệnh có thể phải đối mặt khác như: xơ phổi, áp xe não, hay giãn phế quản,… Những biến chứng nặng sẽ có thể gây nên đe dọa tính mạng của người bệnh.

Điều trị áp xe phổi hiệu quả, nhanh chóng

Bệnh có thể điều trị được hiệu quả nếu sớm được phát hiện và điều trị kịp thời, đúng cách. Ngược lại, người bệnh sẽ phải đối diện với không ít những ảnh hưởng, tác hại tiêu cực.

  Điều trị bằng phương pháp nội khoa

Người bệnh có thể được cho điều trị bằng kháng sinh, tuy nhiên cần dùng kháng sinh sớm. Người bệnh cần sử dụng ít nhất từ trong khoảng thời gian 2 kháng sinh trở lên.

Trong quá trình điều trị, người bệnh có thể được thay đổi kháng sinh điều trị dựa theo kháng sinh đồ cũng như diễn biến lâm sàng nếu có. Thời gian sử dụng kháng sinh cũng thường kéo dài ít nhất trong khoảng 4 tuần.

Cần sớm điều trị bệnh để đảm bảo sức khỏe người bệnh

Cần sớm điều trị bệnh để đảm bảo sức khỏe người bệnh

  Điều trị áp xe phổi dẫn lưu ổ áp xe

Dựa theo phim chụp X-quang để có thể chọn tư thế dẫn lưu, vỗ rung lồng ngực phù hợp. Chẳng hạn như để bệnh nhân ở tư thế nào tốt nhất ổ áp xe, hay dẫn lưu tư thế nhiều lần/ngày.

Tuy nhiên, lúc đầu thường diễn ra trong thời gian ngắn khoảng vài phút. Sau đó sẽ kéo dài dần thời gian và đồng thời có thể kết hợp với vỗ rung. Vỗ rung mỗi ngày khoảng 2-3 lần, lần đầu là khoảng 5 phút, sau đó sẽ tăng dần đến khoảng 10-20 phút.

Bên cạnh đó, người bệnh cũng có thể được hút mủ ở phế quản dẫn lưu ổ áp xe

Người bệnh cũng có thể được chọc dẫn lưu mủ qua da, với những ổ áp xe phổi ở ngoại vi. Bên cạnh đó những ổ áp xe ở sát thành ngực, ổ áp xe không thông với phế quản, dính với màng phổi cũng có thể sử dụng phương pháp này.

Người bệnh cũng có thể được áp dụng các phương pháp điều trị khác như phẫu thuật. Người bệnh sẽ được mổ cắt phân thuỳ phổi hay một bên phổi tuỳ theo mức độ bệnh.

Trên đây là một số những thông tin về bệnh áp xe phổi mà các bạn có thể tham khảo. Mong rằng, các bạn đã có thêm được thông tin bổ ích để ngăn ngừa, điều trị bệnh hiệu quả. Từ đó, giúp bạn có thể bảo vệ sức khỏe của bản thân, gia đình mình được hoàn hảo nhất.

Nguồn: https://cachtriho.net/

Reply